Soạn văn 10: Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt


1. Khái niệm ngôn ngữ sinh hoạt

ngôn ngữ sống là khái niệm chỉ toàn bộ lời nói, lời nói hàng ngày mà con người dùng để giao tiếp, suy nghĩ, trao đổi tâm tư, tình cảm với nhau, nhằm đáp ứng những nhu cầu tự nhiên trong cuộc sống.

2. Biểu hiện của ngôn ngữ sinh hoạt

– Dạng nói, bao gồm các kiểu: đối thoại, độc thoại và hội thoại (thông qua các phương tiện nghe nhìn).

– Dạng lời nói nội tâm, gồm các loại:

Xem thêm:: Phân tích một đoạn văn trong bài Người lái đò Sông Đà

+ Độc thoại nội tâm: là nói với chính mình nhưng không thành tiếng.

+ Đối thoại nội tâm: tưởng tượng có người nói với mình, đối đáp như đối thoại.

+ Dòng tâm sự: là những suy nghĩ bên trong thành một chuỗi mạch lạc, trong đó có thể có cả đối thoại và độc thoại nội tâm.

LUYỆN TẬP

Câu hỏi 1

– Về câu tục ngữ:

Xem thêm:: Lập dàn ý phân tích 4 đoạn trích chính trong “Chiếc thuyền ngoài xa”

Lời nói không mất tiền mua

quảng cáo

Cẩn thận lựa lời cho vừa lòng nhau.

Đây là một lời khuyên của nhân dân ta về cách ăn nói. Lời nói “không mất tiền mua” nhưng không phải nói tùy tiện theo suy nghĩ và sở thích của bạn. Từ ngữ và ngữ pháp của tiếng Việt ta vô cùng phong phú, cùng một từ có thể có nhiều cách nói khác nhau. Chọn cách nói sao cho “được lòng” người nghe là điều ai cũng cần lưu tâm. Khi nói phải chú ý đến hoàn cảnh, đến thứ bậc và đối tượng, đến mục đích giao tiếp… thì “lời nói” của mình mới đạt được hiệu quả giao tiếp như mong muốn. Tuy nhiên, làm “vui lòng” cũng phải tùy từng hoàn cảnh. Nếu chỉ làm “vui lòng” một chiều thì không khác gì những kẻ xu nịnh, thích vuốt ve. Nói thẳng thường đơn giản và hiệu quả, mặc dù không phải lúc nào cũng làm hài lòng người nghe.

– Về câu tục ngữ:

Lửa thử vàng, thử than

Xem thêm:: Soạn bài Quà của lúa non: Cốm | Nhà soạn nhạc 7 tốt nhất

Chuông để thử tiếng, người tốt thử lời.

Đây là một kinh nghiệm sống. Trong cuộc sống, có rất nhiều tiêu chuẩn được đưa ra để đánh giá một con người. Một trong những tiêu chí đó là lời nói. Người “tử tế” là người biết ăn nói khiêm tốn, lễ phép, biết “kính trên nhường dưới”.

câu 2: Trong đoạn trích truyện Bắt cá sấu rừng U Minh Hạ, ngôn ngữ sinh hoạt đời thường được thể hiện dưới hình thức lời nói của nhân vật. Lời nói nghệ thuật của nhân vật ở đây thực chất là hình thức bắt chước, bắt chước đối thoại tự nhiên nhưng đã được sáng tạo, cải biên. “Dấu hiệu” của lời nói tự nhiên trong lời nhân vật là:

– Yếu tố dư có tính chất đưa đẩy tạo nên sự gần gũi, thân mật: xong, chưa gì, vừa, nghiêm khắc,…

– Những từ ngữ địa phương để tạo nên “chất Nam Bộ” cho tác phẩm như: đuổi (đuổi) người, bâng khuâng (xót xa, xót xa), xót xa, phú quới (phus)…

Cách dùng từ của anh ấy cho chúng ta thấy nhân vật là người miền Nam, bởi vì phương ngữ anh ấy sử dụng là phương ngữ miền Nam (tôi không có phong phú đó).

Bạn đang xem chuyên mục NGỮ VĂN

KHAITRI.EDU.VN

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *