Suy thoái kinh tế là gì? Nguyên nhân và tác động tới nền kinh tế?

Photo of author

By admin

Trong bối cảnh đại dịch covid hoành hành trên toàn thế giới vừa qua, suy thoái kinh tế là một vấn đề nghiêm trọng và cấp bách đối với tất cả các quốc gia. Do ảnh hưởng của dịch bệnh, nhiều nền kinh tế đã phải đối mặt với sự sụt giảm mạnh mẽ về tăng trưởng, sản xuất, tiêu dùng và thương mại. Điều này không những gây ra khó khăn cho các doanh nghiệp, người lao động mà còn đe dọa đến sự ổn định và phát triển của các quốc gia. Để hiểu rõ hơn về nguyên nhân, hậu quả và giải pháp cho vấn đề suy thoái kinh tế, mời bạn đọc bài viết dưới đây.

1. Suy thoái kinh tế là gì?

suy-thoai-kinh-te

Suy thoái kinh tế được định nghĩa như sau: “Suy thoái kinh tế là một thuật ngữ kinh tế vĩ mô dùng để chỉ sự suy giảm đáng kể trong hoạt động kinh tế nói chung trong một khu vực nhất định”.  Tình trạng suy thoái kinh tế thường được ghi nhận sau hai quí suy giảm kinh tế liên tiếp hay nói rõ hơn là kinh tế tăng trưởng âm, được phản ánh bởi chỉ số GDP kết hợp với các chỉ số hàng tháng khác như việc làm.  Suy thoái kinh tế có biểu hiện rất rõ trong sản xuất công nghiệp, việc làm, thu nhập thực tế và thương mại.

Ngoài hai quý liên tiếp giảm GDP, các nhà kinh tế học đưa ra một số chỉ số khác để xác định liệu một cuộc suy thoái sắp xảy ra hay đã diễn ra. Các chỉ số này được chia thành hai loại: chỉ số hàng đầu (leading indicators) và chỉ số chậm (lagging indicators). Các chỉ số hàng đầu được đưa ra trước khi cuộc suy thoái chính thức được công bố.

Có lẽ chỉ số hàng đầu phổ biến nhất đó là Chỉ số công nghiệp Dow Jones (DJIA) và Standard & Poor’s (S & P 500), thường xuất hiện vài tháng trước khi cuộc suy thoái bắt đầu. Trong năm 2007, khi thị trường bắt đầu giảm vào tháng Tám, bốn tháng trước khủng hoảng chính thức vào tháng 12 năm 2007.

Các chỉ số chậm mà đại diện là tỷ lệ thất nghiệp. Mặc dù Cuộc suy thoái kinh tế bắt đầu vào tháng 12 năm 2007, tỷ lệ thất nghiệp vẫn cho thấy việc làm đầy đủ – tỷ lệ ở mức 5% hoặc thấp hơn. Tuy nhiên tỷ lệ thất nghiệp bắt đầu tăng gấp 3 trong tháng 5 năm 2008 và không phục hồi cho đến vài tháng sau khi cuộc suy thoái kết thúc vào tháng 6 năm 2009.

Dựa trên những quan điểm trên và mục đích nghiên cứu của luận án là phân tích tác động của suy thoái kinh tế thế giới đến CTV của doanh nghiệp Việt Nam, tác giả thống nhất với quan điểm của Samuelson và Nordhalls (2007) và NBER cho rằng nền kinh tế có ba pha lần lượt là suy thoái, phục hồi và hưng thịnh.

Tuy nhiên, do hạn chế về dữ liệu thu thập và tính chất của chu kỳ kinh tế thế giới – vừa kết thúc pha suy thoái và đang dần phục hồi nhưng chưa đạt đến pha hưng thịnh. Vì vậy, phạm vi nghiên cứu của luận án chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu hai pha suy thoái và pha phục hồi.

Chu kỳ kinh tế cũng như hiện tượng suy thoái kinh tế ảnh hưởng nghiêm trọng đến doanh nghiệp. Do đó, việc nghiên cứu hệ thống các lý thuyết của chu kỳ kinh tế và suy thoái kinh tế là nhiệm vụ quan trọng được các quốc gia quan tâm. Tuy nhiên, những trường phái khác nhau đưa ra những cách giải thích khác nhau về suy thoái kinh tế. Sau đây luận án trình bày quan điểm của một số trường phái cơ bản và từ đó, tác giả vận dụng các lý thuyết này để giải thích các hành vi của các chủ thể trong nền kinh tế gắn với suy thoái kinh tế.

2. Nguyên nhân gây ra suy thoái kinh tế:

nguyen nhan suy thoai kinh te

Để giải thích hiện tượng suy thoái kinh tế, nhiều học thuyết kinh tế đã nghiên cứu về nguyên nhân và cơ chế dẫn đến sự giảm phát triển của một nền kinh tế so với xu hướng tăng trưởng dài hạn của nó. Những học thuyết này được phân loại theo các nhóm khác nhau dựa trên các yếu tố ảnh hưởng đến suy thoái kinh tế, bao gồm các yếu tố kinh tế thực tế như sản lượng, nhu cầu, giá cả, các yếu tố tài chính như tiền tệ, lãi suất, nợ công, và các yếu tố tâm lí như kỳ vọng, niềm tin, sợ hãi. Một số học thuyết còn kết hợp giữa các yếu tố này để tìm ra mối liên hệ phức tạp giữa chúng trong quá trình suy thoái kinh tế.

Một số nhà kinh tế tin rằng những thay đổi có thực và sự thay đổi cấu trúc trong các ngành là cách giải thích tốt nhất cho nguyên nhân và cách thức suy thoái kinh tế xảy ra. Ví dụ, khi giá dầu tăng đột ngột, kéo dài do khủng hoảng địa chính trị có thể dẫn tới chi phí của nhiều ngành tăng vọt hoặc sự xuất hiện của một công nghệ mới mang tính cách mạng có thể khiến toàn bộ các ngành khác trở nên lỗi thời.

Thuyết Chu kì Kinh doanh thực là ví dụ hiện đại tốt nhất cho những học thuyết này, giải thích suy thoái là phản ứng tự nhiên của những người tham gia lí trí trong thị trường đối với một hay nhiều cú sốc tiêu cực có ảnh hưởng thực, không lường trước được đối với nền kinh tế.

Một số học thuyết khác cho rằng suy thoái phụ thuộc vào các yếu tố tài chính. Các học thuyết này tập trung vào sự bùng nổ của tín dụng và rủi ro tài chính trong khoảng thời gian mà nền kinh tế đang tăng trưởng tốt trước một cuộc suy thoái, hoặc sự thắt chặt của tín dụng và tiền bạc trước thềm suy thoái, hoặc cả hai.

Các học thuyết dựa trên tâm lí học về suy thoái có xu hướng nhìn vào sự hưng phấn quá mức của thời kì bùng nổ của nền kinh tế trước đó hoặc sự bi quan sâu sắc trong môi trường suy thoái như giải thích tại sao suy thoái có thể xảy ra và thậm chí còn tồn tại.

Học thuyết kinh tế của Keynes chính là ví dụ tiêu biểu của trường hợp này, vì nó chỉ ra rằng một khi suy thoái bắt đầu, vì bất kỳ lí do gì, khi tâm lí bầy đàn của các chủ thể trong nền kinh tế trở nên tiêu cực, các nhà đầu tư có thể tự xây dựng nên thực tế dựa theo kì vọng của họ về tâm lí bi quan của thị trường, điều này dẫn tới giảm thu nhập khiến cho chi tiêu sụt giảm.

3. Tác động của suy thoái kinh tế:

Dấu hiệu suy thoái kinh tế

dau hieu suy thoai kinh te 2

Một quốc gia được coi là đang trong thời kỳ suy thoái kinh tế khi chỉ số Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của nó giảm liên tục trong hai quý. GDP là một chỉ số quan trọng để đánh giá sức khỏe và phát triển của nền kinh tế mỗi quốc gia. Nó đo lường tổng giá trị của tất cả hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong lãnh thổ của một quốc gia, trong một khoảng thời gian nhất định, thường là ba tháng hoặc 12 tháng. Vào thứ Tư vừa qua, Bộ trưởng Tài chính Úc Frydenberg đã công bố rằng nền kinh tế của nước này đã giảm 0,3% trong quý đầu tiên của năm 2023, chủ yếu là do ảnh hưởng tiêu cực của đại dịch Covid-19. Đây là lần đầu tiên kể từ năm 1991, nền kinh tế Úc ghi nhận một quý giảm trưởng. Nếu quý tiếp theo cũng có kết quả tương tự, Úc sẽ chính thức rơi vào suy thoái kinh tế.

Nhưng những vụ cháy rừng mùa hè cũng không giúp được gì. Và quý từ tháng Tư đến tháng Sáu sẽ chứng kiến suy giảm kinh tế khủng khiếp hơn rất nhiều, ông đã cảnh báo – vì vậy có hai quý giảm GDP liên tiếp của bạn.

Việc làm

Sẽ có ít việc làm hơn. Ít hơn rất nhiều. Điều đó có thể khó tin, với ước tính một triệu người trong chúng ta đã thất nghiệp. Những con số thất nghiệp gần đây được đưa ra sau khi các quy tắc giãn cách xã hội bắt buộc của coronavirus đã đóng cửa hàng trăm ngàn doanh nghiệp trên cả nước vào tháng 3. Theo Cục Thống kê Úc (ABS), số lượng việc làm đã giảm 7,5% trong khoảng thời gian từ 14 tháng 3 đến 18 tháng 4. Tỷ lệ thất nghiệp tăng 1% trong tháng 4 từ 5,2% lên 6,2%. Nhưng chúng ta vẫn còn một chặng đường dài trước khi chúng ta bị khủng hoảng năm 1992 là 11,2%. Hoặc 32% trong cuộc Đại khủng hoảng những năm 1930.

Chi tiêu

Ít việc làm hơn có nghĩa là ít người kiếm được tiền để mua đồ, đặc biệt là những thứ không cần thiết. Vì vậy, trong khi các siêu thị có thể vẫn giữ được doanh thu, thì đó là các quán cà phê, nhà hàng, quán rượu, quần áo và các mặt hàng xa xỉ sẽ bắt đầu sụp đổ trước tiên.

Tiền lương

Ít việc làm hơn cũng có nghĩa là tiền lương trì trệ hoặc thậm chí giảm. Với nhiều người theo đuổi số lượng công việc ít hơn, sẽ có ít động lực hơn cho các nhà tuyển dụng để đưa ra mức lương cạnh tranh.

Khi ngày càng có nhiều doanh nghiệp đấu tranh cho một chỗ đứng trong môi trường cạnh tranh khốc liệt của kinh tế này, việc trì hoãn trở nên không thể tránh khỏi. Vì vậy, trong thời kỳ suy thoái, bạn có nhiều khả năng bị sa thải, hoặc bị dư thừa, mặc dù điều đó phần lớn phụ thuộc vào ngành nghề của bạn. Các công việc của chính phủ, giáo dục và chăm sóc sức khỏe an toàn hơn trong suy thoái so với các công việc trong ngành sản xuất, xây dựng, tài chính và CNTT.

Nợ nần

Thất nghiệp, thiếu việc làm hoặc mức lương thấp hơn – hóa đơn vẫn có thể tăng lên. Chính phủ Morrison đã ban hành một lời cầu xin các nhà cung cấp năng lượng, chủ nhà và các nhà tài chính cho vay mua nhà để thực hiện lòng trắc ẩn trong những thời điểm khó khăn này. Nhưng nếu thời gian suy thoái kéo dài, những nhà cung cấp này có thể không tiếp tục sự đồng cảm hiện tại của họ. Ô tô và nhà cửa có thể bị buộc phải bán đi để trang trải các hóa đơn.

Bất động sản

Theo một số chuyên gia kinh tế, nếu tỷ lệ thất nghiệp của Úc đạt 10%, thì giá nhà có thể giảm tới 20%. Đó là tin xấu cho bất cứ ai nhìn thấy số dư chưa trả cho khoản vay mua nhà của họ trở nên cao hơn giá nhà có thể bán đi. Nó gọi là vốn chủ sở hữu âm.

Trong cuộc khủng hoảng thế chấp được gọi là cho vay dưới chuẩn ở Mỹ đã dẫn tới cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2007-2009, ước tính 47% tài sản bị tịch thu do vốn chủ sở hữu âm. Tuy nhiên, đây là một tin tốt, nếu bạn đang cố gắng tham gia vào thị trường bất động sản lần đầu tiên.  Và nếu bạn có một công việc ổn định, lương cao, toàn thời gian.

Du lịch

Quên đi. Không có ai đi đâu trong một thời gian khá lâu. Về mặt tích cực, suy thoái không kéo dài mãi mãi. Trên thực tế, chúng thường có vòng đời từ 18 đến 24 tháng. Chúng ta chỉ mất nhiều năm để phục hồi kinh tế sau suy thoái.

Kết luận suy thoái kinh tế

Suy thoái kinh tế là một hiện tượng kinh tế mà trong đó nền kinh tế của một quốc gia giảm trưởng liên tục trong hai quý hoặc hơn. Suy thoái kinh tế có thể gây ra nhiều hậu quả tiêu cực cho xã hội, như thất nghiệp, nghèo đói, khủng hoảng tài chính, giảm chất lượng cuộc sống, và mất niềm tin vào chính quyền. Để ngăn chặn và khắc phục suy thoái kinh tế, các chính phủ và các ngân hàng trung ương thường áp dụng các chính sách kinh tế vĩ mô, như cắt giảm lãi suất, tăng chi tiêu công, giảm thuế, và cứu trợ các doanh nghiệp và người dân. Tuy nhiên, các chính sách này cũng có thể gây ra những vấn đề khác, như lạm phát, nợ công, và thiếu hiệu quả. Do đó, việc đối phó với suy thoái kinh tế đòi hỏi sự cân bằng và linh hoạt của các nhà hoạch định chính sách, cũng như sự hợp tác và đồng thuận của các bên liên quan trong và ngoài nước.

Viết một bình luận